Việt Nam là một trong năm nước hạnh phúc nhất?

0 comments


Dạo trước có thời báo chí VN đồng loạt đăng tải tin tức rằng Việt Nam xếp vào 5 nước hạnh phúc nhất thế giới, dựa theo "chỉ số hành tinh hạnh phúc" do tổ chức Quỹ kinh tế mới (New Economics Foundation) xếp hạng. Dù bạn có cảm thấy hạnh phúc thật sự hay không thì đây cũng là một niềm tự hào với nhiều người và là một sự bất ngờ với nhiều người khác. Nhưng cho dù cảm giác của bạn ra sao, tôi cho rằng cũng không hại gì nếu chúng ta thử tìm hiểu xem "chỉ số hành tinh hạnh phúc" thật ra là như thế nào...


Chỉ số hành tinh hạnh phúc (Happy Planet Index - HPI) là gì?


Có rất nhiều người, cũng như nhiều tờ báo ở Việt Nam, lấy cái HPI này ra để nói rằng người VN là một trong năm nước hạnh phúc nhất thế giới, hoặc rằng người Việt Nam hạnh phúc nhất châu Á!!! Tôi cá là những cái đầu đặc đó còn thiếu tư duy tự tìm hiểu đến mức không chịu google thử xem HPI là cái khỉ gì nữa...


HPI không phải là thước đo hay chỉ số hạnh phúc của con người! Nó được đặt ra nhằm thể hiện hiệu suất sử dụng tài nguyên sinh thái trong việc tạo ra hạnh phúc (environmental efficiency of supporting well-being). Nói cách khác, HPI chỉ ra tỷ lệ tương quan giữa hai "đại lượng" (tôi dùng tạm từ "đại lượng" cho dù hạnh phúc là một khái niệm thật ra không dễ cân đong đo lường): một là việc tác động đến sinh thái, hai là việc con người trở nên thỏa mãn; đối tượng của hạnh phúc ở đây không phải là con người, mà là hành tinh xanh (dĩ nhiên là hành tinh sẽ khó mà hạnh phúc nếu bị tác động khai thác quá nhiều). Từ điểm này mà suy thì không những HPI không nói lên mức độ hạnh phúc của con người ta, mà có khi nó còn chỉ ngược lại nữa.


Một số ví dụ về mức độ thỏa mãn


Thử hình dung thế này nhé: Chi phí để xây một tòa nhà 100 tầng phải chăng sẽ gấp 10 lần chi phí xây một tòa nhà 10 tầng? Đương nhiên là không phải vậy, ta không thể đơn giản cứ nhân 10 lần chi phí thì sẽ được một tòa nhà cao gấp 10, bởi việc xây dựng một tòa nhà cao gấp 10 đòi hỏi những nỗ lực gấp bội chứ đơn giản không chỉ gấp 10. Rõ ràng, xét về mặt hiệu quả trong việc sử dụng chi phí xây dựng, thì việc xây một tòa nhà 100 tầng không hiệu quả bằng xây 1 tòa nhà 10 tầng, cho dù cái nhà 100 tầng chắc chắn là cao hơn...


Một ví dụ khác thường được sử dụng trong những tiết học nhập môn của kinh tế học vi mô: Một tô phở đem lại một mức thỏa mãn s, nhưng hai tô phở không thể đem lại một mức thỏa mãn 2 x s, và 10 tô phở không đời nào khiến bạn thỏa mãn 10 x s, mà còn khiến cho bạn thêm ngán ngẩm... Không tin cứ thử ăn 10 tô phở xem... Nói cách khác, để đem lại thỏa mãn cho con người, việc ăn 10 tô phở rõ ràng là không hiệu quả bằng việc ăn 1 tô phở, do dù nói gì thì nói, mức thỏa mãn của người ăn 10 tô phở chắc chắn là cao hơn của người chỉ được ăn 1 tô...


Quay lại vấn đề HPI


Những ví dụ này, đặc biệt là ví dụ của kinh tế vi mô trong việc thỏa mãn trong tiêu dùng, cho ta thấy rằng khi con người càng thiếu thốn thì họ càng dễ dàng cảm thấy hạnh phúc khi đạt được một điều gì đó dẫu rằng hết sức nhỏ nhoi. Ông bà ta có câu: "Một miếng khi đói bằng một gói khi no" chính là nhằm chỉ đến trường hợp này. Một người đói thì chỉ "một miếng" cũng đủ cho họ hạnh phúc vô vàn, trong khi một người no thì cả "một gói" cũng chẳng làm sự hạnh phúc của họ tăng lên tương đương. Vậy bạn muốn làm người đói hay người no?


Ở một khía cạnh khác, mức độ hạnh phúc hiện tại của con người càng cao, thì càng khó làm cho họ hạnh phúc thêm nữa; muốn làm cho họ hạnh phúc thêm nữa phải tiêu tốn số lượng tài nguyên và chi phí cao hơn nữa, nghĩa là khi con người ở tình trạng hạnh phúc càng cao thì hiệu suất sử dụng tài nguyên để làm họ hạnh phúc thêm nữa càng giảm đi. Chúng ta có thể diễn tả điều này qua đồ thị như sau (với trục hoành chỉ mức độ sử dụng tài nguyên):


Tất nhiên, thứ gì cũng có ngoại lệ nào đỏ (ví dụ như một số nước cực nghèo nhưng vẫn cứ tham nhũng và phung phí tài nguyên một cách khủng khiếp như ở châu Phi). Nhưng khi ta xét ở mức độ tổng quát, thì một chỉ số HPI cao sẽ tương ứng với việc hạnh phúc hơn hay ít hạnh phúc hơn? Nhìn đồ thị là thấy...


Việt Nam có chỉ số HPI cao thứ 5 thế giới


Đấy là sự thật, theo số liệu năm 2009. Chúng ta có thể kể luôn "top ten": Costa Rica, Cộng hòa Dominican, Jamaica, Guatemala, Vietnam, Colombia, Cuba, El Salvador, Brazil, Honduras. Tám trong số mười nước "top ten" này (ngoại trừ Việt NamBrazil) là những nước xung quanh vùng biển Caribbean, và đa phần nổi tiếng là nghèo rớt (Panama là ngoại lệ)... Liệu điều đó đã đủ nói lên ý nghĩa của HPI chưa?


Còn nếu bạn vẫn "hạnh phúc" vì con số 5 này, thì đấy là quyền tự do của bạn thôi...


Độc "U mộng ảnh"

0 comments

Dạo trước đọc "U mộng ảnh", cũng tiện tay bình phẩm khá nhiều. Kể cũng lâu rồi, đến giờ không khỏi có suy nghĩ khác đi...


2. Trương Trào viết: "Kinh truyện nên đọc một mình, mà sử giám nên đọc cùng bạn."


Tôi thì cho rằng: Phim xxx nên xem một mình, có thể xếp vào hàng kinh. Phim xxx nên xem cùng bạn gái, có thể xếp vào hàng sử.



3. Trương Trào viết: "Không thiện không ác là bậc thánh, nhiều thiện ít ác là bậc hiền, ít thiện nhiều ác là hạng người tầm thường, có ác không thiện là hạng tiểu nhân, có thiện không ác là hàng Tiên, Phật."


Tôi thì nghĩ: Thiện ác là gì? Tôi đây chả hiểu gì sất.



4. Trương Trào viết: "Trong thiên hạ có được một người tri kỷ, thì có thể không còn ân hận gì nữa. Đâu phải chỉ có con người mới thế, mà cả vật cũng vậy. Như cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ, mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ, trúc lấy Tử Do làm tri kỷ, sen lấy Liêm Khê làm tri kỷ, đào lấy những người trốn vua Tần làm tri kỷ, hạnh lấy Đổng Phụng làm tri kỷ, đá lấy Mễ Điên làm tri kỷ, trái vải lấy Thái Chân làm tri kỷ, trà lấy Lư Đồng, Lục Vũ làm tri kỷ, cỏ thơm lấy Linh Quân làm tri kỷ, thuần lư lấy Quý Ưng làm tri kỷ, chuối lấy Hoài Tố làm tri kỷ, dưa lấy Thiệu Bình làm tri kỷ, gà lấy Xử Tông làm tri kỷ, ngỗng lấy Hữu Quân làm tri kỷ, trống lấy Nễ Hành làm tri kỷ, tỳ bà lấy Minh Phi làm tri kỷ, … Một khi đã gắn bó thì ngàn thu không đổi. Còn thông đối với Tần Thủy, hạc đối với Vệ Ý thì đúng là không có duyên vậy."


Tôi thì nói: Sai rồi sai rồi. Không phải cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ, mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ đâu, thực ra chỉ là Uyên Minh lấy cúc làm tri kỷ, Hòa Tĩnh lấy mai làm tri kỷ mà thôi. Hai việc này vốn chẳng giống nhau. Cúc mai không biết nói, nên chẳng cãi lại Trương Trào được thôi.



5. Trương Trào viết: "Vì trăng mà lo mây, vì sách mà lo mối mọt, vì hoa mà lo gió mưa, vì tài tử giai nhân mà lo mệnh bạc, đó thực là tấm lòng bồ tát vậy."


Tôi thì nói: Thế nên mới bảo bồ tát là bậc chưa thật sự thoát khỏi trần duyên vậy. Nếu là phật thì đã không thế.



6. Trương Trào viết: "Hoa không thể không có bướm, núi không thể không có suối, nước không thể không có rong, cây cao không thể không có dây leo, và người ta không thể không nghiện một thứ gì."


Tôi thì cho rằng: Hoa không có bướm, núi không có suối, nước không có rong, cây cao không có dây leo, chuyện ấy tôi đều đã gặp qua. Hoa ấy vẫn là hoa, núi ấy vẫn là núi, nước ấy vẫn là nước, cây ấy vẫn là cây. Chỉ e có người vẫn cố chấp mà nói rằng: hoa không có bướm đâu phải là hoa! Nếu nói như thế, phải chăng mỹ nhân không có tôi thì không phải là mỹ nhân nữa chăng? Hay tôi không có mỹ nhân thì không phải là tôi nữa chăng?



7. Trương Trào viết: "Mùa xuân nghe tiếng chim hót, mùa hè nghe tiếng ve ngâm, mùa thu nghe tiếng côn trùng rả rích, mùa đông nghe tiếng tuyết rơi, ban ngày nghe tiếng đánh cờ, dưới trăng nghe tiếng tiêu réo rắt, trong núi nghe tiếng gió thổi ngàn thông, bên nước nghe tiếng sóng vỗ, mới không sống uổng phí một đời. Còn như nghe tiếng con trẻ hung dữ làm nhục, hay tiếng vợ quá quắt chửi mắng, cứ xem như tai điếc còn hơn."


Tôi lại nghĩ: Tiếng chim tiếng ve tiếng trùng tiếng tuyết, tiếng cờ tiếng tiêu tiếng gió tiếng sóng, đều đáng nghe cả. Tiếng trẻ con kêu khóc, tiếng đàn bà chửi mắng, tiếng mặc cả ngoài chợ, tiếng cười nói trong quán, lại chẳng đáng nghe ư? Kinh Thi, Sử Ký đều là cóp nhặt lời "dâm ô" trong dân gian, tiếng "tục tằn" ở phố chợ mà ra cả, lẽ nào lại không hay?



8. Trương Trào viết: "Tiết Thượng Nguyên nên uống rượu với bạn hào sảng, tiết Đoan Ngọ nên uống rượu với bạn xinh đẹp, tiết Trung Thu nên uống rượu với bạn giản dị, tiết Trùng Cửu nên uống rượu với bạn phóng khoáng."


Tôi thì nghĩ: Bốn mùa nhậu nhẹt, tám tiết rượu chè, thế thì hư cả gan! Chớ nên nghe theo lời khuyên này.



11. Trương Trào Viết: "Thưởng hoa nên ngồi với giai nhân, uống rượu ngắm trăng nên ngồi với người phong vận, thưởng tuyết nên ngồi với người cao nhã."


Tôi chợt nghĩ: Tôi từng gặp một giai nhân phong vận cao nhã, đúng là có thể mong ở bên nàng đời đời kiếp kiếp, thưởng hoa thưởng tuyết, uống rượu ngắm trăng, hay làm bất kì chuyện gì cũng đều tốt cả. Đáng tiếc những người "ba trong một", vừa xinh đẹp vừa phong vận vừa cao nhã như thế thời nay không nhiều, khó mà gặp lại, nên chỉ đành từng dịp mà ngồi chơi với từng hạng người thôi, không còn có ý ở bên ai đời đời kiếp kiếp nữa.



13. Trương Trào viết: "Khải thư nên viết như văn nhân, thảo thư nên viết như danh tướng. Hành thư ở vào khoảng giữa hai loại đó, như Dương Thúc Tử mang đai chùng, mặc áo cừu mỏng, chính đó là vẻ đẹp."


Tôi thầm nghĩ: Thư bút vốn không phải là thiên phú của tôi. Tôi viết chữ xấu, viết chữ khải thì trông như chương thảo, viết chữ hành thì trông như cuồng thảo. Đọc câu này chỉ biết tự cười mình thôi.



14. Trương Trào viết: "Làm người nên cầu được vào thơ, làm vật nên cầu được vào tranh vẽ."


Tôi thì nghĩ: Có mấy người đẹp cứ muốn tôi làm thơ về họ, thì ra là thế.



15. Trương Trào viết: "Kẻ thiếu niên nên có kiến thức của bậc lão thành, mà bậc lão thành nên có hoài bão của kẻ thiếu niên."


Tôi thì thắc mắc: Lão thành có hoài bão thiếu niên thì được; nhưng thiếu niên lấy đâu ra kiến thức của bậc lão thành?



21. Trương Trào viết: "Trang Chu mộng thấy mình hóa thành bướm, đó là cái may mắn của Trang Chu; bướm nếu mộng thấy mình hóa thành Trang Chu, thì đó là cái bất hạnh của bướm."


Tôi thì cho rằng: Trang Chu với bướm, còn chưa biết đằng nào hơn đằng nào, hãy khoan nói ai bất hạnh vội. Sao lại cho rằng làm bướm tốt hơn làm Trang Chu?



22. Trương Trào viết: "Gầy hoa để gọi bướm, chất đá để mời mây, trồng thông để đón gió, chứa nước để mời bèo; xây đài cao để mời trăng, trông chuối để đón mưa, trồng liễu để gọi ve."


Tôi thì nghĩ: Đáng thương cho hoa, đá, thông, nước, đài, chuối, liễu!



24. Trương Trào viết: "Tài tử mà được phú quý, nhất định phải do phước huệ song tu mới có được."


Tôi thì nghĩ: Đúng quá. Thế còn "phú quý mà lại tài tử" thì sao?



25. Trương Trào viết: "Trăng non hận về nỗi mau lặn mà trăng khuyết lại hận về nỗi lâu lên."


Theo tôi thì phải nói: "Chỉ hận thiếp sinh sao quá muộn, chẳng gặp chàng Lư lúc thiếu niên!". Nên tự trách mình hơn là trách trăng vậy.



28. Trương Trào viết: "Đứng trên lầu ngắm núi, đứng đầu thành ngắm tuyết, ngồi trước đèn ngắm hoa, ngồi trong thuyền ngắm ráng chiều, dưới trăng ngắm mỹ nhân, mỗi cảnh đều có tình riêng."


Tôi thì nghĩ: Đúng lắm. Tôi chưa đứng đầu thành ngắm tuyết bao giờ, còn những cảnh kia, quả thật không lần nào tình cảnh giống lần nào. Mà thật ra ngồi trong thuyền ngắm núi, ngồi trước đèn ngắm mỹ nhân cũng có ý vị lắm.



29. Trương Trào viết: "Ánh nắng của núi, tiếng chảy của nước, màu sắc của trăng, hương thơm của hoa, vẻ nho nhã của văn nhân, dáng yêu kiều của mỹ nhân đều là những thứ không thể dùng tên gọi mà hình dung ra được, không thể nào nắm bắt được, quả đủ để làm ngơ ngẩn mộng hồn, đảo điên thần tứ!"


Tôi thì nói: Đúng nhưng chưa đủ. Thiên hạ mang mang, há chỉ có núi, nước, trăng, hoa, văn nhân, mỹ nhân đâu, thứ nào mà chẳng "ngơ ngẩn mộng hồn, đảo điên thần tứ" chứ.



30. Trương Trào viết: "Giá như trong giấc mộng mà có thể tự chủ được thì dù chốn xa ngàn dặm cũng có thể đến không khó khăn gì, mà không cần đến cây gậy rút đất của Trường Phòng; có thể gặp gỡ người đã khuất, mà không cần đến thuật chiêu hồn của Thiếu Quân; có thể rong chơi Ngũ nhạc bằng trí tưởng mà không cần chờ đến khi chuyện gia đình ổn định."


Tôi thì nghĩ: Không sai. Nhưng có lẽ người xưa chưa biết khái niệm về "lucid dream" chăng?



31. Trương Trào viết: "Chiêu Quân do cuộc hòa thân mà được nổi tiếng, Lưu Phần vì đi thi hỏng mà được lưu truyền, có thể cho đó là điều bất hạnh, nhưng không thể xem là chuyện thịêt thòi được."


Tôi thì cười mà nói: Bá Hổ phong lưu mà để tiếng, Thạch Sùng giàu có được lưu danh, đúng là càng không thể xem là chuyện thiệt thòi được. Hà tất phải chọn con đường bất hạnh kia làm chi...



33. Trương Trào viết: "Mỹ nhân hơn hoa ở chỗ biết nói, hoa hơn mỹ nhân ở điểm tỏa hương. Nếu không thể chọn được cả hai thì bỏ cái tỏa hương mà chọn cái biết nói vậy."


Tôi thì cho rằng: Kể ra Trương Trào lựa chọn cũng phải. Có điều mỹ nhân vừa biết nói lại tỏa hương phải đâu không có. Tôi có phúc hơn Trương Trào, may đã gặp được mấy người như vậy, xem ra mỹ nhân hơn đứt hoa rồi. Vì thế xưa nay đều yêu mỹ nhân hơn là yêu hoa.



37. Trương Trào viết: "Giàu mà ô trọc không bằng nghèo mà thanh cao, sống mà khổ sở không bằng chết mà sung sướng."


Tôi thì thấy: Achilles từng nói đại khái rằng thà mai một trên trần gian còn hơn vinh hiển dưới âm phủ. Tôi thì cho rằng Achilles đáng tin hơn, vì ông ta nói câu này khi ở dưới âm phủ, còn Trương Trào khi viết U mộng ảnh có lẽ vẫn còn sống nhăn. Thử chết đi rồi hẵng nói nhé.


39. Trương Trào viết: "Bướm là hóa thân của tài tử, hoa là biệt hiệu của mỹ nhân."


Tôi chợt nghĩ: Con bướm cái là nữ tài tử hóa thân chăng?



40. Trương Trào viết: "Nhân tuyết mà nhớ tới cao sĩ, nhân hoa mà nhớ tới mỹ nhân, nhân rượu mà nhớ tới hiệp khách, nhân trăng mà nhớ tới bạn hiền, nhân sơn thủy mà nhớ tới thơ văn đắc ý."


Tôi thì nghĩ: Còn tôi có tuyết thì nhớ tới mỹ nhân, có hoa thì nhớ tới mỹ nhân, có rượu cũng nhớ tới mỹ nhân, có trăng cũng nhớ tới mỹ nhân, nhân sơn thủy lại càng nhớ tới mỹ nhân, mà chẳng có gì cũng nhớ tới mỹ nhân. Thật không hiểu ra sao, như thế gọi là "ám ảnh tình dục" chăng?



45. Trương Trào viết: "Thầy tăng mà làm thơ, nhiều khi có, còn đạo sĩ mà biết làm thơ là điều hiếm hoi ít thấy, vì sao vậy?"


Tôi thì nói: Thích gia từ kết tập kinh điển trở đi, sách vở rất nhiều, lại thích sao lục tàng trữ, nên những gì viết ra còn truyền lại, kinh điển đã vậy, thi kệ cũng không khác. Còn Đạo gia thì ngược lại, sách vở rất ít, lời lẽ cũng kiệm, đủ thấy phong thái Đạo gia không coi trọng việc sao lục tàng trữ. Lão Đam viết năm nghìn chữ để lại, là do người Tần nài nỉ, chứ bản ý Lão Đam có định viết đâu! Thật ra, Đạo gia làm thơ viết từ vốn dĩ không ít, chỉ là coi ngôn từ như gió thoảng mây bay, tùy hứng mà thành, không cầu việc lưu truyền, như Lý Thái Bạch viết trên vạn bài thơ mà mười phần mất chín. Đó là do thế nhân kém phúc, không được đọc nhiều thơ của Đạo gia, chứ không phải là Đạo gia không biết làm thơ.



47. Trương Trào viết: "Con gái từ tuổi mười bốn đến hai mươi bốn, trong khoảng ấy, bất kể là Yên, Tần, Ngô, Việt, phần lớn giọng nói đều ngọt ngào yểu điệu làm cảm động được lòng người. Mới gặp mặt mà lòng yêu ghét đã phân rõ ràng. Tai nghe không bằng mắt thấy, càng tin thêm điều này."


Tôi chỉ có thể nói: Không sai, con gái tuổi đó nói tiếng Nẫu cũng hay nữa.



49: Trương Trào viết: "Giàu sang mà vất vả, không bằng nghèo hèn mà thanh nhàn; nghèo hèn mà kiêu ngạo, không bằng giàu sang mà khiêm cung."


Tôi nói rõ thêm: Khiêm cung tất nhiên thanh nhàn, kiêu ngạo thì chuốc vất vả. Nếu giữ được khiêm cung, thì giàu sang hay nghèo hèn vốn không phải là vấn đề. Chỉ là người nghèo dễ khiêm cung, người giàu thường kiêu ngạo thôi.



50. Trương Trào viết: "Mắt không tự thấy, mũi không tự ngửi, lưỡi không tự nếm, tay không tự sờ, chỉ có tai tự nghe được tiếng mình."


Tôi thì nói: Mắt có màu nên có thể thấy, mũi có mùi nên có thể ngửi, lưỡi có vị nên có thể nếm, tay có hình nên có thể sờ, còn tai có tiếng chăng? Từ xưa chỉ nghe "âm thanh của một bàn tay" bây giờ lại đến "âm thanh của một lỗ tai", tôi vốn không hiểu thiền, gặp phải công án này quả thật bế tắc.



58. Trương Trào viết: "Mây là vật biến hóa : hoặc cao chót vót như núi, hoặc mênh mông như nước, hoặc giống như người như thú, hoặc gióng như lông chim vảy cá. Cho nên mọi thứ trong thiên hạ đều có thể vẽ được, duy mây thì không. Cái gọi là vẽ mây, chỉ là cách nói gượng mà thôi."


Tôi thì nói: Riêng gì mây, trong thiên hạ có thứ gì không biến hóa? Núi cao biển rộng cũng biến hóa, giai nhân tài tử cũng biến hóa, văn hay chữ tốt cũng biến hóa. Ta hôm nay đã khác ta hôm trước, người đời xưa đâu sống tới bây giờ? Thử hỏi vẽ Chiêu Quân thì nên vẽ một giai nhân áo đỏ ôm đàn, hay là nên vẽ một bộ xương trong mồ? Cho nên cái gọi là vẽ giai nhân chỉ là cách nói gượng mà thôi.



69. Trương Trào viết: "Viết được một cuốn sách mới, đó là sự nghiệp thiên thu; chú giải được một bộ cổ văn, đó là công lao vạn đại."


Tôi thì thành tâm mà nói: Tôi trước nay rất phục những người dịch sách tận tâm trong thiên hạ, họ tạm gác ý mình để chuyên tâm chuyển tải, làm rõ cái ý của người khác, đúng là công đức rất lớn, không dễ đạt được. Nếu dịch bừa giảng ẩu thì lại gây ra tội nghiệt muôn đời. Nếu là tôi thì tôi chịu thôi.



72. Trương Trào viết: "Văn chương của đại gia, tôi yêu và hâm mộ, nguyện học theo; văn chương của danh gia, tôi yêu và hâm mộ, nhưng không dám học theo. Học theo đại gia mà không được, kêu bằng khắc con ngỗng không thành cũng còn ra dáng con cò; còn học danh gia mà không được, đó là họa hổ không thành, ắt sẽ biến thành con chó."


Tôi chỉ có thể nói: Rất đúng. Vì thế Đỗ Tử Mỹ là đại gia, mà Lý Thái Bạch chỉ là danh gia thôi. Nhưng có phải là thơ họ Lý không bằng thơ họ Đỗ đâu. Chẳng qua họ Lý tài cao bát cực, ý ngoài nhật nguyệt, người phàm không thể đuổi kịp; còn họ Đỗ thì lời ở nhân gian, lòng ở thiên hạ, nên người phàm có thể học theo.



80. Trương Trào viết: "Dưới thông nghe tiếng đàn cầm, dưới trăng nghe tiếng tiêu, bên khe nghe tiếng thác đổ, trong núi nghe tiếng tụng kinh, tai nghe ra mỗi tiếng đều có ý vị riêng."


Tôi nói thêm: Nhưng tĩnh mịch vô thanh là dễ chịu nhất, mọi âm thanh khác đều không bằng.



81. Trương Trào viết: "Dưới trăng bàn thiền, thú vị càng man mác; dưới trăng luận kiếm, can đảm càng bồng bột; dưới trăng bàn thơ, phong thái càng u nhã; dưới trăng ngắm mỹ nhân, tình ý càng nồng thắm."


Tôi lại cho rằng: Dưới trăng bàn về mỹ nhân còn có ý vị, dưới trăng trò chuyện với mỹ nhân lại càng tình tứ. Có điều dưới trăng ngắm mỹ nhân, chỉ e không đủ ánh sáng, khó mà ngắm rõ. Tôi ngắm trăng không ít, tuy nói rằng trăng sáng vằng vặc, nhưng cũng không thể đọc sách được. Chữ "đối" trong nguyên bản có lẽ là chỉ việc trò chuyện với mỹ nhân chăng? Còn nếu mỹ nhân phải mờ ảo không rõ mới đẹp, sao gọi là mỹ nhân?



84. Trương Trào viết: "Lúc mưa xuân nên đọc sách, lúc mưa hè nên đánh cờ, lúc mưa thu nên lục soạn đồ cất dấu, lúc mưa đông nên uống rượu."


Tôi thì nói: Bất kể bốn mùa, lúc mưa nên ở trên lầu.



85. Trương Trào viết: "Thơ văn được cái khí mùa thu thì hay, từ khúc được cái khí mùa xuân thì hay."


Tôi nhận xét: Nói rất đúng. Vì thế thơ của Lâm Tiêu Tương xếp trên thơ của Tiết Hành Vu, mà từ của Tiết Hành Vu lại xếp trên từ của Lâm Tiêu Tương.



91. Trương Trào viết: "Tìm tri kỷ nơi bạn bè, dễ; tìm tri kỷ nơi thê thiếp, khó; tìm tri kỷ nơi vua tôi càng khó khăn hơn nữa."


Tôi thì nghĩ: Người thời xưa đa thê nên mới nói thế chăng?



94. Trương Trào viết: "Con người không gì vui cho bằng nhàn. Nhàn đâu phải là không có gì để làm. Có nhàn mới đọc được sách, có nhàn mới du ngoạn được danh lam thắng cảnh, có nhàn mới giao du được với những bạn có ích, có nhàn mới uống được rượu, có nhàn mới viết được sách. Niềm vui trong thiên hạ, còn có gì lớn hơn nó nữa?"


Tôi tổng kết lại: Hưởng được niềm vui trong công việc của mình, ấy là nhàn vậy.



108. Trương Trào viết: "Văn chương là gấm vóc có lời, gấm vóc là văn chương không lời, cả hai đều cùng phát xuất từ một nguồn. Đại khái mà bàn luận thì các nơi như Kim Lăng, Vũ Lâm, Cô Tô, nơi nào có sách thì nơi đó có khung cửi dệt."


Tôi thì nói: Đó đều là những nơi khí hậu dễ chịu, phong cảnh diễm lệ. Con người sống giữa chốn đó, cầm bút lên thì phát ra thành văn, đẩy thoi đi thì phát ra thành gấm, đều là từ trời đất một phương mà thành.



110. Trương Trào viết: "Hoa không nên thấy rụng, trăng không nên thấy chìm, người đẹp không nên thấy chết yểu."


Tôi thì cười rằng: Hoa phải rụng, trăng phải chìm, người phải chết. Nói như Trương Trào, khác nào khuyên người quân tử nên tránh xa chỗ bếp núc?



116. Trương Trào viết: "Việc không nên khắt khe, nhưng đọc sách thì không thể không khắt khe; việc không nên tham, nhưng mua sách không thể không tham; việc không nên đam mê, nhưng làm việc thiện không thể không đam mê."


Tôi thì nói: Tôi từ nhỏ vốn đã không trọng sách, chỉ trọng những gì viết trong sách, nên quyển sách nghìn tuổi do Triêu Vân chép tay cũng chẳng hơn quyển sách mới photo ngoài tiệm hôm qua. Bây giờ nghĩ lại, thấy mình thật không đúng. Nếp nhà tôi cần kiệm nên tôi lại có thói không bỏ tiền mua sách, chỉ thích cầm quyển sách lên đọc một lèo cho nhớ rồi về sau mới suy ngẫm dần như con bò nhai lại. Bây giờ nghĩ lại, thấy mình thật sai quá.



121. Trương Trào viết: "Vợ lẽ đẹp không bằng vợ chính hiền, tiền nhiều không bằng cảnh thuận."


Tôi thì cười mà nói: Vợ chính không hiền, làm sao có thể có vợ lẽ đẹp?



125 Trương Trào viết: "Rượu có thể thay trà, trà không thể thay rượu; thơ có thể thay văn, văn không thể thay thơ; khúc có thể thay từ, từ không thể thay khúc; trăng có thể thay đèn, đèn không thể thay trăng; bút có thể thay miệng, miệng không thể thay bút; tỳ thiếp có thể thay người hầu, người hầu không thể thay tỳ thiếp."


Tôi thì nói: Rượu không thể thay trà, thơ không thể thay văn, khúc không thể thay từ, trăng không thể thay đèn, bút không thể thay miệng. Vạn vật trong thiên hạ đều có sở trường, độc nhất vô nhị.



126. Trương Trào viết: "Mối bất bình nhỏ trong lòng, có thể dùng rượu để nguôi đi; mối bất bình lớn trong đời, không dùng kiếm không sao nguôi được."


Tôi chỉ có thể nói: Rất đúng.Tính tôi không thích rượu nhưng lại mê kiếm, phải chăng là nỗi bất bình quá lớn?



135. Trương Trào viết: "Có cái vui ẩn dật ở cảnh núi rừng mà không biết hưởng, đó là hạng đánh cá, đốn củi, hạng làm vườn và hạng thầy chùa; có cái vui với vườn tược, thê thiếp mà không biết hưởng, đó là hạng phú thương và hạng quan lớn."


Tôi nói rõ hơn: Ở với núi rừng thì nên hưởng thụ núi rừng, ở với thê thiếp thì nên hưởng thụ thê thiếp, quan trọng là người ta biết tận hưởng cuộc sống của mình.



138. Trương Trào viết: "Xem Thủy Hử đến đoạn Lỗ Đạt đánh Trấn Quan Tây, Võ Tòng đánh cọp, nhân đó mà nghĩ con người ta tất phải có việc làm cực kỳ khoái ý như thế, mới không sống uổng một đời. Còn nếu không làm được việc đó, thì cũng nên viết sách tả được những điều đắc ý mới khỏi ân hận."


Tôi thì nói: Tôi trước nay đọc Thủy Hử, thống khoái nhất là đoạn Võ Tòng giết mười lăm người trên lầu Uyên Ương! Phải chăng là nỗi bất bình quá lớn, đánh một Trấn Quan Tây, giết một mãnh hổ vẫn chưa đủ? Chỉ mong có thể vung kiếm giết sạch bọn tham quan ác bá trên đời này mới hả.



152. Trương Trào viết: "Lập phẩm hạnh, nên noi người Tống mà phát huy đạo học; sống với đời, nên theo đời Tấn mà học cách phong lưu."


Tôi thì nói: Người đời Tống vì thất chí mà theo đạo học, người đời Tấn vì bế tắc mà hóa phong lưu. Nếu không cùng cảnh ngộ, không nên miễn cưỡng học theo.



185. Trương Trào viết: "Nếu không có thơ rượu thì sơn thủy cũng chỉ là vẻ đẹp suông, không có giai nhân thì trăng hoa cũng chỉ bày ra cho uổng phí."


Tôi mới nói: Trước khi Đại Vũ chế rượu thì non sông kém phần tươi đẹp chăng? Trước khi Tây Tử sang Ngô thì trăng hoa chưa đáng thưởng thức chăng?


Hãy học tiếng Hoa!

0 comments


Là người An Nam, hãy học tiếng Hoa. Nếu bạn cần lí do để học tiếng Hoa thì tôi xin trình bày luôn: nếu bạn là người An Nam máu đỏ da vàng tóc đen mũi tẹt thì chắc chắn là bạn sẽ rơi vào một trong bốn trường hợp sau, khó mà trật ra ngoài được:


1. Bạn là người Hoa


Số lượng người Hoa ở An Nam tuy đã giảm đáng kể so với thời xưa, nhờ vào công ơn đàn áp của đảng và nhà nước ta, nhưng vẫn chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Lấy cái thành phố Sài Gòn ra làm ví dụ, trong mười người dân là có một người Hoa, trong công ti của tôi cũng thế, cứ mười mạng là có một mạng Hoa. Đấy là chưa kể những người Hoa qua đợt "nạn kiều" phải che dấu dân tộc tính của mình, và một số người Hoa mà không biết mình là người Hoa (ví dụ như tôi đây). Đối với người An Nam đồng thời là người Hoa, không hiểu sao tôi luôn có một tình cảm gần gũi thương mến, đặc biệt là với nữ giới…


Là người Hoa tất nhiên phải học tiếng Hoa, cũng như người An Nam ra nước ngoài tị nạn cộng sản cũng luôn nhắc nhở cháu con học tiếng An Nam cho khỏi quên gốc vậy. Thật ra đa phần người Hoa "công khai" đều biết sử dụng tiếng Hoa (ít ra là tiếng mẹ đẻ), nên lời khuyên này kể cũng khá thừa với họ; tuy nhiên tôi còn muốn nhắn nhủ với những người Hoa mà không biết mình là người Hoa (như tôi đây), rằng nên học tiếng Hoa để tái khám phá lại cội nguồn, kể cũng là một điều hay.


2. Bạn ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa


Sự ngưỡng mộ tôn sùng dành cho văn hóa Trung Hoa là một truyền thống thiêng liêng ngàn đời của dân tộc An Nam, kể từ khi họ chớm thoát thai ra khỏi những tộc Tày tộc Thái để hình thành dân tộc An Nam trên đồng bằng sông Hồng sông Mã. Biết bao nhiêu thế hệ người An Nam đã ngẩn ngơ theo Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc? Bao nhiêu thế hệ người An Nam đã tôn thờ Khổng Tử, Khuất Nguyên, Lý Bạch, Đỗ Phủ? Bao nhiêu thế hệ người An Nam đã thuộc nằm lòng Thủy Hử, Tây Du, Tam Quốc, Hồng Lâu? Có thể tóm gọn căn tính của dân tộc An Nam này trong hai điểm: Phong thổ địa phương + Văn hóa Trung Hoa, hai điều không thể thiếu một. Như vậy, làm sao người An Nam có thể không thấm đẫm văn hóa Trung Hoa trong hồn nước được?


Đã ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa mà không biết tiếng Hoa, đó là một thiếu sót cực lớn, bởi ngôn ngữ là một thành phần quan trọng không thể thiếu cấu thành nên văn hóa (một nhà ngôn ngữ học nào đó đã nói câu này nhưng tôi quên mất tên ông ta là ai rồi). Là người An Nam, sử dụng văn hóa Trung Hoa trong đời sống hằng ngày, mà lại thiếu mất yếu tố ngôn ngữ, như thể chẳng khác nào dùng cái ngọn mà quên cái gốc, không thể bền vững được. Đơn cử một ví dụ nhỏ mà tôi vẫn hay gặp: đại đa số người An Nam đặt tên bằng chữ Hán - là một thành tố của văn hóa Trung Hoa đã du nhập vào An Nam và được bản địa hóa - nhưng ngoại trừ những người có một chút hiểu biết về tiếng Hoa ra, còn lại rất dễ hiểu sai tên mình. Vậy việc học tiếng Hoa, xét cho cùng, chỉ là một cách hoàn thiện hóa nền văn hóa An Nam mà thôi.


3. Bạn e dè chế độ chính trị Trung Hoa


Vấn đề này thật là "nhạy cảm", nên tôi nói rõ, phần này chỉ bàn về mối quan hệ giữa các chế độ chính trị mà thôi: cụ thể là các chế độ chính trị ở An Nam và các chế độ chính trị ở Trung Hoa. Xét về mặt chính trị, An Nam từ ngàn xưa luôn đóng vai một đàn em đối với đàn anh Trung Hoa, nhiều phen được đàn anh che chở, nhưng cũng không ít phen bị đàn anh chơi ép, nên việc vừa dựa dẫm vừa cảnh giác là một tâm lý có thể hiểu được. Các sự kiện lịch sử trong nửa thế kỷ gần đây càng khiến cho tình "huynh đệ" này mỗi lúc một căng thẳng, đặc biệt là tranh chấp các quần đảo trong Nam Hải và sự bành trướng thế lực quân sự của Trung Hoa ở phương nam, cũng như nguy cơ đụng độ vũ trang giữa hai chế độ, càng khiến cho người An Nam sợ hãi, và từ đó dẫn đến căm ghét chế độ ở Trung Hoa hơn. Sự dè chừng đó hóa ra càng là một lí do để học tiếng Hoa nữa. Như một người Trung Hoa là Tôn Vũ đã từng viết: "Tri bỉ tri kỉ, bách chiến bất đãi", muốn chống chọi với đối phương mạnh hơn, không thể không biết người biết ta. Mà làm sao có thể biết người, nếu đến ngôn ngữ của người cũng không biết?


Có nhiều bạn tưởng rằng trong thế giới hiện đại này nay, với internet kết nối mọi nguồn tri thức, chỉ cần biết tiếng Anh là đã đủ. Xưa kia tôi cũng từng tưởng như thế, về sau mới biết là mình sai, đặc biệt là khi nghiên cứu về Trung Hoa. Năm nghìn năm văn minh của Trung Hoa để lại những kho tàng văn hóa đồ sộ, cũng như văn hóa Trung Hoa hiện đai đang bùng nổ này nay cũng tạo ra những giá trị văn hóa mới nhiều không kể xiết, mà phần lớn đều chưa được chuyển sang tiếng Anh. Đơn cử vài quyển sách khá phổ thông mà người Trung Hoa đa phần cũng biết, như Khang Hi từ điển, Sơn Hải Kinh, hay những quyển sử nổi tiếng như Đường thư, Tống sử, đố bạn nào tìm được bản tiếng Anh trên net đấy... Nhưng chỉ cần biết tiếng Hoa là bạn đã có thể tiếp cận được rồi. Tôi xin lấy tiếp một ví dụ khác, đó là vấn đề tranh chấp đảo ở Nam Hải. Người An Nam cũng đã đọc không ít các tài liệu, dẫn chứng, lí lẽ xác nhận chủ quyền của "phía ta", nhưng thử hỏi đã có mấy ai, ngoại trừ các học giả, đã biết tới những lí lẽ của "phía địch" chưa? Đã có mấy ai đọc những tài liệu xác nhận chủ quyền viết bằng tiếng Hoa chưa? Đã có mấy ai tham gia những diễn đàn của người Trung Hoa để cảm nhận tình cảm của họ dành cho mảnh đất phương nam của tổ quốc họ chưa? Đó chỉ là vì không biết tiếng Hoa thôi.


Tóm lại, biết tiếng Hoa là một vấn đề then chốt trong việc hiểu được Trung Hoa, từ đó có thể có cái nhìn toàn diện và đúng đắn hơn về thế cuộc, cũng như biết cách phản kháng Trung Hoa hữu hiệu hơn. Trong cuộc kháng cự Trung Hoa nghìn năm này, nếu cha ông của người An Nam vào các đời Lí Trần Lê Nguyễn đã có thể thành công được, tôi cho rằng chính là vì họ còn biết dùng tiếng Hoa chữ Hán vậy.


4. Bạn vừa ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa vừa e dè chế độ chính trị Trung Hoa


Có thể nói đại đa số người An Nam thuộc dạng này. Đó là một sự kết hợp tưởng chừng mâu thuẫn nhưng lại rất hữu lí: sự ngưỡng mộ dành cho văn hóa Trung Hoa kết hợp với sự e dè và phản kháng đối với những âm mưu bá quyền từ phía các chế độ chính trị Trung Hoa. Tổ tiên của người An Nam đã dùng ngay văn hóa Trung Hoa, mà tiếng Hoa là một thành tố chủ yếu, làm công cụ hữu hiệu nhất để chống lại bá quyền chính trị Trung Hoa, ví dụ của điều này thì không thiếu, đơn cử Lí Thường Kiệt viết "lộ bố văn", hay "Nam quốc sơn hà" gì gì đó đều bằng tiếng Hoa, và dựa trên những thành tố văn hóa Trung Hoa.


Như trên đã trình bày, nếu như bạn thuộc trường hợp 4 này thì xem như bạn đó có gấp đôi số lí do để học tiếng Hoa rồi đó.


KẾT LUẬN


Tôi có ý không nhắc đến những lí do kinh tế, như đi làm công ti Đài Loan, lấy chồng Đài Loan, làm công nhân cho công ti Trung Quốc khai thác bauxite, hoặc đi đánh hàng chợ biên giới, bởi xét cho cùng, những lí do đó không xác đáng mấy. Còn những lí do về văn hóa như đi du học bên Trung Hoa thì đã có thể gom vào trường hợp 2 hoặc 3 rồi.


Là người An Nam, chắc chắn là bạn có một lí do để học tiếng Hoa. Nếu bạn là người An Nam yêu nước, bạn càng cần phải học tiếng Hoa. Nhưng cũng xin nói rõ kẻo có người hiểu nhầm: tôi khuyên bạn nên học tiếng Hoa chứ không nên học tiếng Lạ, nên yêu người Hoa chứ đừng yêu người Lạ, thế nhé.